|
Tiến độ giải ngân chậm gần như xuất hiện toàn bộ ở các dự án đầu tư xây dựng, từ các chương trình mục tiêu quốc gia đến vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Một bàn tròn với các chủ dự án ít hoặc không giải ngân được đồng vốn nào hé mở nhiều nguyên nhân khác nhau: thời tiết bất lợi, bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư chậm…
ÔNG HOÀNG NGỌC THÀNH - PHÓ GIÁM ĐỐC KHO BẠC NHÀ NƯỚC: “Sợ trách nhiệm!”
Không loại trừ yếu tố thời tiết khắc nghiệt ở miền núi đã hạn chế thời gian thi công. Nhưng, vướng lớn nhất, dai dẳng nhiều năm chưa gỡ được là do yếu tố giải phóng mặt bằng, tái định cư. Nguyên nhân là việc xây dựng tái định cư quá chậm, nên “rờ” đâu cũng không giải phóng được mặt bằng. Ngoài năng lực một số nhà thầu lẫn chủ đầu tư yếu thì các chủ đầu tư khác ngại không dám ứng vốn trước cho các nhà thầu, dù hợp đồng đã được ký kết, và vì sợ trách nhiệm. Chưa kể đến việc không ít công trình xây dựng cơ bản ở Quảng Nam vẫn còn nợ vốn thi công nhiều năm chưa trả được, dẫn đến tình trạng các nhà thầu không thể đẩy nhanh tiến độ thi công khi chưa được rót vốn. Nếu năng lực nhà thầu yếu mà không mạnh dạn tạo điều kiện, tạo thêm năng lực, không bơm vốn cho họ, trong khi vốn nằm chết trong kho bạc… thì nói gì đến việc xúc tiến thi công.
Thiếu gì biện pháp chế tài với các nhà thầu không chịu báo cáo thanh toán mà ngại. Chưa kể đến việc không dám cho ứng vốn trước thì tác động chênh lệch giá, nhà thầu phải điều chỉnh, chủ đầu tư lại tiếp tục “ngâm cứu”, giám định… thay đổi dự toán và cả việc không dám ký chênh lệch giá. Nếu mạnh dạn nâng mức tạm ứng vốn nhiều hơn để nhà thầu tập kết vật tư, chuẩn bị đầu tư thì khả năng hạn chế vấn đề phải điều chỉnh chênh lệch giá là rất lớn. Chung quy, cái chính vẫn là sợ trách nhiệm!
ÔNG HỒ XUÂN PHÙNG - PHÓ BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 661: “Vướng vì kế hoạch hàng năm không bao giờ đạt chỉ tiêu”
Không có gì trục trặc từ phía Kho bạc Nhà nước, nhưng tốc độ giải ngân chậm, sử dụng không hết vốn là do việc ứng vốn cho các dự án cơ sở thường tập trung vào tháng 12 cho đến tháng 3 năm sau, nhất là chương trình trồng rừng luôn có vốn lớn. Một phần do các chủ đầu tư không dám ứng vốn vì sợ rủi ro. Khi nghiệm thu không thấy rừng, tài chính, kho bạc căn cứ vào thực tế “đòi nợ” chủ dự án; còn chủ dự án thì lại khó thu hồi vốn đã ứng cho dân, nên phải đợi đến tháng 3 mới thanh toán được.
Suất đầu tư trồng rừng kinh tế 2 triệu đồng/ha, trồng rừng phòng hộ từ 6 triệu đồng đã tăng lên 10 triệu đồng/ha, không phải là thấp, nhưng vẫn không hút được dân vì cơ chế hưởng lợi không thông thoáng so với các dự án trồng rừng khác. Nếu như vay vốn ưu đãi của WB3, dân sẽ trồng rừng trên đất của mình. Khi thu hoạch hưởng 100% sản phẩm, Nhà nước không can thiệp. Còn với Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng (dự án 661), dù được đầu tư 10 triệu đồng/ha nhưng là rừng phòng hộ của Nhà nước. Sau 7 năm, dân vẫn được khai thác, nhưng phải giữ lại mật độ tàn che 0,6 (100 ha thì chỉ được khai thác 20 ha). Đa số dân tham gia dự án đều là dân nghèo, trong khi quỹ đất trồng rừng phòng hộ ngày càng khó khăn, hiện trường ngày càng quá xa. Vì vậy, việc sử dụng không hết vốn thường xuyên xảy ra vì kế hoạch trồng rừng hàng năm không bao giờ đạt chỉ tiêu cả. Tháng 3 năm tới sẽ giải ngân hết, vì lúc đó mới biết có rừng hay không?
ÔNG VÕ VĂN NĂM - PHÓ GIÁM ĐỐC SỞ NN&PTNN: “Không thể giải ngân vì không có đất xây dựng”
Vốn có, thủ tục xong, nhưng không có đất xây dựng nên không thể giải ngân được. Khi lập dự án hạ tầng vùng sản xuất giống thủy sản tập trung tại Thăng Bình, đã tính toán cả đến việc khớp nối toàn bộ với Chu Lai và với cả dự án sắp xếp dân cư ven biển. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng cũng đã đảm bảo cho xử lý nước thải, cây xanh…, thì giờ lại nằm trong vùng quy hoạch của một dự án lớn năng động khác.
Người dân Quảng Nam không thể bỏ nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ. Nhưng nếu không có con giống tốt, kiểm soát chất lượng tại chỗ thì sẽ gặp thất bại ngay. Năm 2009, riêng tôm thẻ chân trắng cần đến 4 tỷ con giống nhưng phải chịu cảnh mua bán gần như trôi nổi bởi sản xuất không ổn định. Vì vậy, rất cần có khu sản xuất tập trung ở Quảng Nam. Nếu như dự án buộc phải thay đổi địa điểm thì chắc là phải bỏ thôi. Không thể chuyển được, vì nồng độ muối trong nước biển của các vùng đất khác bị thay đổi liên tục.
Làm du lịch thì có nhiều điểm, trong khi đó không có nhiều điểm để sản xuất giống nuôi trồng thủy sản tập trung. Hiện vẫn đang chờ quyết định cuối cùng từ UBND tỉnh.
ÔNG LƯƠNG ĐÌNH HẢI - CHI CỤC PHÓ CHI CỤC DS-KHHGĐ: “Chậm vì… chứng từ”
Toàn bộ kinh phí ứng chuyển về các huyện triển khai chương trình DS-KHHGĐ, nhưng chứng từ các huyện vẫn chưa nộp để thanh toán với kho bạc. Chỉ cần đến giữa tháng 12 năm nay, khi các huyện cung cấp đầy đủ chứng từ, sẽ chuyển qua kho bạc. Hy vọng là sẽ giải ngân hết trong năm nay! Công tác KHHGĐ đều thực hiện theo định mức cụ thể, nhưng hầu hết các huyện đều không thực hiện đủ chỉ tiêu giao, mà còn có xu hướng giảm dần, nên sẽ còn dư tiền lại. Mấy năm trước, chuyển tiền sang mua thuốc phục vụ cho năm sau. Năm này chúng tôi đang tính toán lại.
BÀ LÊ THỊ THU BỒN - PHÓ BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ CỬA KHẨU NAM GIANG: “Vùng biên giới khó khăn về thời tiết lẫn địa hình”
Việc giải ngân ì ạch như hiện nay chưa phải là do năng lực nhà thầu hay thi công yếu mà do tiến trình xây dựng trên địa bàn biên giới gặp quá nhiều khó khăn về thời tiết lẫn địa hình phức tạp. Mặt khác, lại vướng về thủ tục chuyển đổi của đường điện từ cửa khẩu qua Đắc Chưng (Lào). Dù đã nỗ lực rất nhiều trong việc nhanh chóng lập các dự án khi có quyết định phê duyệt quy hoạch của Chính phủ để triển khai thi công và đẩy nhanh tiến độ, nhưng đến cuối năm nay, cố gắng lắm cũng chỉ giải ngân được khoảng 70% vốn xây dựng cơ bản thôi.
TRỊNH DŨNG
Nguồn tin: Báo Quảng Nam điện tử
|