|
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Quảng Nam đã có nhiều đổi thay mới mẻ, tuy nhiên sự phát triển còn chưa bền vững…
Sau khi tái lập tỉnh, quy mô nền kinh tế tăng lên đáng kể và có bước phát triển toàn diện, GDP tăng trưởng khá (trong đó nông, lâm, thủy sản trong 3 năm 2006-2008 tăng khoảng 3,5%). Tỉnh đã ban hành nhiều chính sách đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như: phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, kinh tế vườn, kinh tế trang trại, giao thông, y tế, giáo dục... Từ năm 2006-2008, ngân sách nhà nước từ các chương trình, dự án đầu tư cho khu vực miền núi chiếm 58% tổng nguồn vốn phân bổ cho địa phương...
Dù đạt được những thành tựu không nhỏ, góp phần xóa đói giảm nghèo nhưng nông nghiệp, nông thôn Quảng Nam vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất chưa có các giải pháp hữu hiệu để khắc phục; công tác giống cây trồng, vật nuôi phục vụ sản xuất còn bất cập; chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và nông thôn nhiều nơi còn mang tính tự phát, chưa bền vững, chưa thích ứng với cơ chế thị trường; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều yếu kém. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nông thôn đã hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị làm xuất hiện một bộ phận hộ nông nghiệp không còn đất để sản xuất, trong khi đó nhiều quy hoạch treo khiến dự án chiếm đất không triển khai thực hiện... Thế nhưng, các khu vực thuần nông phải “vật lộn” với cơn sốt giá cả, nhất là giá vật tư, phân bón phục vụ nông nghiệp, làm cho tỷ giá cánh kéo nghiêng về phía bất lợi cho sản xuất nông nghiệp mà trực tiếp là người nông dân. Nguy cơ mất mùa do bão, lũ, dịch bệnh gia súc, gia cầm luôn rình rập. Diện tích đất trồng cây hàng năm bình quân 650m2/nhân khẩu, trong đó đất lúa 398m2/nhân khẩu, lại phân tán, nên khó có thể thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, nhất là khu vực trung du, miền núi. Vấn đề tích tụ ruộng đất để có thể áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp; chủ trương và phương thức thực hiện còn phải chờ chính sách vĩ mô. Kinh tế trang trại đã hình thành và có bước phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ, mức vốn đầu tư bình quân chỉ đạt 152 triệu đồng/trang trại chiếm 65% tổng số trang trại, chưa góp phần lan tỏa, tạo động lực cho nông nghiệp phát triển. Mặt khác, định hướng thị trường thiếu bền vững nên chưa phát triển được vùng nguyên liệu hay chăn nuôi tập trung... Các hợp tác xã nông nghiệp đã chuyển đổi bước đầu, nhưng vẫn chưa thích nghi tốt với cơ chế thị trường, phương án sản xuất kinh doanh lúng túng, năng lực tài chính và quản lý hạn chế. Trong khi đó các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh lực nông, lâm, thủy sản không nhiều. Mặt khác thu hút đầu tư sản xuất công nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là vốn FDI là không đáng kể. Trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở vừa thiếu, vừa yếu. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch nhưng còn mang tính cơ học từ nông thôn về các khu công nghiệp, đô thị là chủ yếu, trong khi đó cốt lõi của việc chuyển dịch cơ cấu lao động phải xuất phát từ yêu cầu đưa công nghiệp về khu vực nông thôn.
 |
| Dịch bệnh trên gia súc, gia cầm luôn đe dọa ngành chăn nuôi. |
Về văn hóa, xã hội, người dân khu vực nông thôn, miền núi khó có điều kiện, cơ hội để tiếp cận với khoa học công nghệ, với các dịch vụ y tế, giáo dục. Cả tỉnh số phòng học tạm, trạm y tế xã chưa được kiên cố còn nhiều. Chất lượng giáo dục nhất là khu vực miền núi còn thấp. Thanh niên có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên có xu hướng ly hương về chốn thị thành, lao động chính khu vực nông thôn phần lớn là người già và phụ nữ. Mặc dù đã có nhiều chương trình, dự án đầu tư cho khu vực nông thôn, nhưng hiệu quả đem lại chưa tương xứng; tác động của các chính sách an sinh xã hội chưa đồng đều giữa khu vực nông thôn và thành thị. Số hộ nghèo (theo tiêu chí mới) tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, nhất là trung du, miền núi. Bởi đói nghèo nên một bộ phận người dân tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, khai thác khoáng sản trái phép... và họ trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật hay các chính sách xã hội.
Ông Phạm Thế Quyền - Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn: “Đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thủy điện, để có thể ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân ”
Việc sắp xếp dân cư và bố trí đất ở, đất sản xuất cho nhân dân các xã vẫn chưa được giải quyết ổn định lâu dài, do thiếu kinh phí để đầu tư. Việc xây dựng các dự án thủy điện làm diện tích đất sản xuất hẹp lại, gây khó khăn cho nhân dân. Có đến 80% các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện cần phải sửa chữa, nâng cấp mới đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho diện tích lúa nước hiện có.
Để phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi bền vững, tỉnh cần đề ra chính sách thích hợp với từng vùng để hỗ trợ cho nông thôn; khi thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện, cần quan tâm nhiều đến công tác tái định cư nhất là lồng ghép các các chương trình để giải quyết hậu tái định cư. Bên cạnh đó cần lưu ý vấn đề đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thủy điện để có thể ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng dự án.
Ông Phan Văn Hậu, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT: “Đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp nông thôn... gắn doanh nghiệp với nông dân và vùng nguyên liệu”
Hiện nay, đất nông nghiệp bình quân khoảng 3.500m2/hộ (mỗi hộ có từ 5-7 mảnh đất), 540m2/người, trong đó đất lúa 342m2/người. Với quy mô quá nhỏ bé này, nông dân khó (nếu không muốn nói là không thể) tổ chức sản xuất quy mô lớn. Bởi lẽ, cho dù doanh thu 1ha đất sản xuất nông nghiệp lên đến 100 triệu đồng, lợi nhuận ròng 30 triệu đồng thì đây cũng chỉ là con số để tính toán trên một đơn vị diện tích mà thôi, thực tế không nhiều hộ có đến 1ha đất sản xuất. Mặt khác, do quy mô ruộng đất quá manh mún, tâm lý nông dân phần lớn muốn giữ một mảnh ruộng để ổn định lương thực cho gia đình (cho dù giàu có), làm của thừa kế cho con cháu nên cũng “góp phần” cản trở công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp.
Từ thực tiễn nêu trên, muốn công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn cần phải phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn gắn với vận động, tuyên truyền nông dân tự nguyện dồn điền đổi thửa để tích tụ ruộng đất, tăng diện tích đất nông nghiệp bình quân cho mỗi hộ; đào tạo ngành nghề nhằm chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ. Đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp nông thôn và các công trình phúc lợi. Tăng dần tỷ trọng cơ giới hóa trong nông nghiệp gắn với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư bằng cơ chế hỗ trợ lãi suất vay. Tiếp cận, phát triển thị trường nông - lâm - thủy sản để chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi; gắn chăn nuôi, trồng trọt với chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu; gắn doanh nghiệp với nông dân và vùng nguyên liệu.
Ông Nguyễn Thanh Cầu - Chủ tịch UBND xã Điện Nam Bắc: “Môi trường nông thôn đang có nguy cơ ô nhiễm”
Đã có nhiều khu, cụm công nghiệp nhưng chưa có hệ thống xử lý chất thải, một số đơn vị xả trực tiếp chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, đất đai. Ở một số nơi, nguồn nước sản xuất, sinh hoạt bị nhiễm độc... Việc khai thác hệ thống nước ngầm của các nhà máy trong các khu, cụm công nghiệp còn tùy tiện, là nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn nước ngầm, khiến năng suất cây trồng có xu hướng giảm, một vài nơi có hiện tượng đất sản xuất bạc màu, hoang hóa. Bên cạnh đó, việc tập trung quá đông lao động trong khi kết cấu hạ tầng xã hội chưa đáp ứng cũng làm môi trường xã hội “ô nhiễm”, nhất là các vấn đề về giao thông, nhà ở, y tế, giáo dục, an ninh, trật tự… Trong khi đó, hầu hết doanh nghiệp chưa hợp tác chặt chẽ với địa phương để đảm bảo an ninh, trật tự, tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống công nhân.
Để khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, cần có chế tài ràng buộc trách nhiệm giữa doanh nghiệp với địa phương (nhất là chính quyền cấp xã, huyện) trong việc bảo vệ môi trường, tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân và duy trì an ninh, trật tự trên địa bàn. |
TRẦN XUÂN VINH
Nguồn tin: Báo Quảng Nam điện tử
|